Electrical Engineer turned Data Scientist. Married to Awesome. Occasional drawer of Minions.

Demand-Supply as an IT Organizational Model

Xuất phát tiếp từ bài Một vài topic khi nói về chiến lược IT của một doanh nghiệp, lần này chủ đề IT operating model được nhắc đến nhanh gọn thông qua bản dịch bài Demand-Supply as an IT Organizational Model. Bài này đủ ngắn để định hình qua 2 mô hình Demand-Supply, và Plan-Build-Run là gì trước khi đi tìm đọc tiếp các bài viết chi tiết hơn.

Lưu ý là chủ đề này không mới ở phương Tây, nhưng việc thực hiện ở Việt Nam như thế nào vẫn là một dấu hỏi với tôi, sẽ cần tìm hiểu thêm.

--

Gần đây, hai mô hình vận hành bộ máy IT - demand-supply (DS) and plan-build-run (PBR) – đang ngày một thu hút sực chú ý của những doanh nghiệp. Nói một cách tổng quan, những mô hình này cố gắng phân tách những nhiệm vụ mang tính chiến lược ra khỏi nhiệm vụ mang tính chiến thuật. Việc tiếp nhận những mô hình này xuất phát chủ yếu từ nhu cầu mở rộng quy trình sản xuất phần mềm, tăng tính đồng bộ giữa IT và công việc kinh doanh, cũng như giảm chi phí bảo trì.

Như từng mô tả trong bài này, mô hình P-B-R phân chia bộ phận IT ra làm 3 đơn vị:

  • Đơn vị "Planning" (lập kế hoạch) liên quan đến việc lên các kế hoạch dài hạn, đề ra kiến trúc doanh nghiệp (enterprise architecture), quản lý các nhu cầu CNTT và quản lý tài chính.
  • Đơn vị "Build" (xây dựng) chủ yếu làm về dự án, bao gồm phát triển ứng dụng, bảo trì và hỗ trợ người dùng,
  • Đơn vị "Run" (thực hiện) chủ yếu là vận hành, và hỗ trợ người dùng nếu có sự cố phát sinh.

Cách phân chia nói trên của mô hình PBR là dựa vào bản chất của luồng công việc, phản ánh nhu cầu quản lý việc phát triển và bảo trì một cách độc lập.

Còn mô hình Demand-Supply lại chia những nhiệm vụ phải tiếp xúc khách hàng (như quản lý nhu cầu, lập kế hoạch CNTT dài hạn) ra khỏi những công việc liên quan đến sản phẩm cụ thể (ví dụ quản lý phát triển ứng dụng, quản lý bảo trì ứng dụng). Với kinh nghiệm của ISG, thì lý do phía sau việc tiếp cận mô hình DS thường là để có thể thay đổi nhanh nhạy hơn với các nhu cầu kinh doanh, và thu hẹp khoảng cách giữa "nhu cầu của anh - thực hiện của tôi". Hơn nữa, các tổ chức có thể coi việc giao tiếp trong những nhóm trộn giữa CNTT và kinh doanh không quá hiệu quả, chủ yếu do những lý do trong quá khứ, hoặc (và) vì một môi trường quá đặt nặng thuê đơn vị IT bên ngoài.

Dưới đây là một vài so sánh giữa 2 mô hình trên

Mô hình tổ chức Điểm cộng Điểm trừ
Plan-Build-Run Thúc đẩy việc quản lý độ lập, định hướng bởi nhiều mục tiêu khác nhau liên quan đến phát triển ứng dụng và bảo trì. Bị trùng lặp kỹ năng giữa hai bộ phận ‘build’ và ‘run’
- Thúc đẩy việc quản lý nhà thầu CNTT độc lập giữa phần phát triển và bảo trì Tạo ra nguy cơ mất "khả năng giải trình" giữa các giai đoạn của Software Development Lifecycle (SDLC)
Demand-Supply Tạo một ranh giới rõ ràng giữa yêu cầu kinh doanh và việc phân bố nhân lực Tách biệt giữa việc lên yêu cầu với phát triển, nếu việc phát triển cần quay vòng liên tục thì mô hình này còn gây khó hơn nữa

Với nhiều công ty, cấu trúc của bộ phận CNTT phản ánh những ưu tiên trong giai đoạn đầu thành lập, là thứ mà doanh nghiệp ngẫu nhiên định hình ra theo cảm tính, chứ không hẳn là một sản phẩm được thiết kế tính toán kỹ lưỡng. Tất nhiên là với mỗi doanh nghiệp cần có những phân tích tỷ mỉ, những mô hình "mẫu" như trên vẫn đảm bảo rằng nó hữu ích và gần gũi với bài toán kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.

--

Lưu ý có thể thêm khảo thêm các bài khác như: